Sức khỏe gia đình

Cách phòng và điều trị thoát vị đĩa đệm, thoái hóa cột sống

Thời tiết thay đổi, khí hậu lạnh là những yếu tố ngoại cảnh tác động lớn đến các khớp, nhất là khớp gối và cột sống. Biểu hiện đau là dấu hiệu dễ nhận biết nhất, khi các khớp đã bị thoái hóa thì đau càng rõ ràng hơn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng sống của người bệnh.

Tuy nhiên, nếu thực hiện những chỉ dẫn dưới đây, người bệnh vẫn có những biện pháp để loại trừ chứng đau do thoái hóa khớp.

Phương pháp điều trị thoái hóa khớp
Nếu có dấu hiệu đau và hạn chế vận động ở khớp, cần phải đi khám bệnh để các bác sĩ đánh gía tình trạng bệnh và cho các điều trị thích hợp. Việc điều trị sẽ bao gồm:
thoái hóa khớp
Thoái hóa khớp
Điều trị không dùng thuốc: tăng cường các kiến thức về sức khỏe, đặc biệt sức khỏe xương khớp; vận động, tập luyện, làm việc vừa sức; ăn uống dinh dưỡng hợp lý; tránh dư cân, béo phì, tránh mang vác vật nặng, tránh tăng áp lực cho sụn khớp và đĩa đệm; phát hiện và điều trị sớm các bệnh lý tại hệ thống xương khớp.

Điều trị bằng thuốc: điều trị triệu chứng đau và viêm cho người bệnh bằng thuốc giảm đau và các thuốc kháng viêm; làm chậm quá trình thoái hóa bằng các thuốc có thể cải thiện được tiến triển của bệnh. Hiện nay, việc điều trị thoái hóa khớp đã có nhiều tiến bộ với nhiều thuốc hữu hiệu: glucosamine sulfate dạng tinh thể, diacerein, acid hyaluronic… Các thuốc này đều cần được điều trị đủ liều theo hướng dẫn của các thầy thuốc.

Phẫu thuật: Trong những trường hợp bệnh nặng, không đáp ứng với điều trị nội khoa cần xem xét việc điều trị ngoại khoa kết hợp: mổ nội soi để cắt xương, loại bỏ dị vật, sửa trục khớp; mổ thay khớp nhân tạo khi khớp bị mất chức năng.

Các cách phòng ngừa thoái hóa khớp
Để đề phòng và hạn chế thoái hóa khớp, ngay khi còn trẻ cần tập thể dục đều đặn, tránh bị dư cân, tránh những động tác quá mạnh, nhất là những động tác có thể làm lệch trục khớp và cột sống. Điểm lại các nguyên nhân thường gặp, chúng ta thấy rõ thoái hóa khớp là bệnh có thể ngăn ngừa được.

Sau đây là các biện pháp được các nhà chuyên môn khuyến cáo:
- Duy trì trọng lượng cơ thể ở mức độ thích hợp, tránh dư cân béo phì.

- Tập vận động thường xuyên và vừa sức: luyện tập thể dục, thể thao vừa sức sẽ giúp cơ bắp khỏe mạnh, máu huyết lưu thông dễ dàng. Đó là yếu tố giúp tăng cường dinh dưỡng cho lớp sụn khớp. Cơ bắp khỏe mạnh sẽ giúp giảm lực đè ép lên khớp xương và giảm khả năng té ngã trong sinh hoạt và lao động.

- Giữ tư thế cơ thể luôn thẳng và cân bằng: Tư thế tốt sẽ giúp bảo vệ các khớp tránh sự đè ép không cân đối. Ở tư thế thẳng sinh lý, diện tích tiếp xúc giữa hai mặt khớp sẽ đạt mức tối đa vì thế lực đè ép sẽ tối thiểu. Hơn nữa, khi đó sẽ có sự cân bằng lực giữa các dây chằng và cơ bắp quanh khớp, giúp giảm bớt nhiều nhất lực đè ép lên hai mặt sụn khớp.

- Sử dụng các khớp lớn trong mang vác nặng và tránh quá sức: khi nâng hay xách đồ nặng, bạn cần chú ý sử dụng lực cơ của các khớp lớn như ở tay và khớp vai, khớp khuỷu; ở chân là khớp háng, khớp gối. Khéo léo sử dụng nguyên tắc đòn bẩy ở những khớp lớn để tránh làm tổn thương các khớp nhỏ như cổ tay, cổ chân, bàn tay, bàn chân và nên tận dụng thêm sự hỗ trợ (của dụng cụ hay người khác).

- Giữ nhịp sống thoải mái và thường xuyên thay đổi tư thế: Bạn nên sắp xếp công việc hợp lý, hài hòa giữa nghỉ ngơi và lao động. Nên nhớ rằng các cơ quan trong cơ thể đều cần có sự nghỉ ngơi để tái tạo lại năng lượng. Không nên lặp đi lặp lại một công việc hay tư thế làm việc kéo dài quá sức chịu đựng của cơ thể. Lực tác động không lớn nhưng nếu lặp đi lặp lại trong thời gian quá dài sẽ làm tổn thương khớp.

- Điều trị tích cực các bệnh lý xương khớp mắc phải.
Read more…

Súp lơ xanh giúp phòng bệnh viêm khớp

Các nhà nghiên cứu tại Đại học East Anglia (Anh) cho biết, ăn nhiều bông cải xanh (súp lơ xanh) có thể giúp làm chậm lại và thậm chí phòng tránh bệnh viêm khớp. Họ đang tiến hành thử nghiệm trên người.

Loại cải xanh mang tên Beneforte đã được lai giống giữa cải xanh bình thường và một giống cải dại ở vùng Sicily, nhờ vậy nó chứa nhiều chất dinh dưỡng hơn các loại cải xanh khác.
phòng bệnh viêm khớp
Súp lơ giúp phòng bệnh viêm khớp
Sử dụng bông cải xanh trong 2 tuần là khoảng thời gian quá ngắn để có thể tạo ra bất cứ sự thay đổi lớn nào, song bà Davidson ở Đại học East Anglia hy vọng có thể tìm ra bằng chứng cho thấy loại cải đặc biệt này có lợi cho con người. Bà cho biết: “Mặc dù loại cải này chưa thể chữa trị và làm đảo ngược quá trình viêm khớp… song đây có thể là một cách để phòng tránh căn bệnh này”.

Thử nghiệm trên các tế bào và chuột cho thấy, hợp chất có trong bông cải xanh có thể ngăn chặn một enzym nguy hiểm hủy hoại sụn. Cơ thể chúng ta hấp thụ hợp chất glucoraphanin này và biến đổi nó thành một chất gọi là sulforaphane có vẻ như có tác dụng bảo vệ các khớp.
Read more…

Giảm cân để giảm đau khớp gối

Những người lớn tuổi quá mập có thể giảm đau đầu gối do viêm khớp bằng cách giảm cân thông qua chế độ ăn uống và tập thể dục. Theo các nhà nghiên cứu, chỉ cần giảm 10% trọng lượng cơ thể cũng đủ giảm đau nhức, cải thiện khả năng vận động của khớp gối, nhờ đó có thể nâng cao chất lượng cuộc sống.
đau khớp gối
Đau khớp gối
Trong nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc Trường ĐH Wake Forest (Mỹ), 454 người già thừa cân hay béo phì đang phải chịu những cơn đau do viêm khớp gối được phân chia ngẫu nhiên vào ba nhóm. Một nhóm chỉ thay đổi chế độ ăn uống, một nhóm chỉ tập thể dục và một nhóm kết hợp vừa ăn kiêng và tập thể dục. Kết quả sau 18 tháng thực hiện cho thấy nhóm vừa ăn kiêng vừa tập thể dục giảm được cân nặng nhiều nhất. Họ cho biết ít bị đau khớp gối, khả năng đi bộ nhanh hơn và các hoạt động thể chất liên quan đến sinh hoạt hằng ngày trong cuộc sống tốt hơn so với nhóm chỉ tập thể dục đơn thuần. Ở nhóm ăn kiêng đơn thuần cũng giảm được đáng kể phần tải trọng đè lên đầu gối so với nhóm chỉ tập thể dục đơn thuần.

Các nhà nghiên cứu nói thêm những người già bị viêm khớp nên được bác sĩ kiểm tra trước khi bắt đầu chương trình ăn kiêng và tập luyện để tránh những vận động có thể tổn thương thêm các khớp.

Read more…

Điều trị đau cột sống thắt lưng

Xem thêm tại bệnh viện FV
1. Điều trị nội khoa.
1.1. Bất động.
- Là biện pháp cần thiết trong điều trị đau thắt lưng cấp và thoát vị đĩa đệm nặng. Nằm bất động tương đối trên phản cứng, ở tư thế ngửa, 2 chân hơi co ở khớp gối và khớp háng để chùng cơ và giảm áp lực nội đĩa đệm (có thể cho gối tròn đệm vào vùng khoeo). Thời gian bất động 1-2 ngày, nếu nặng có thể 5-6 ngày. Khi gần hết thời gian bất động thì bắt đầu cho vận động tăng dần: ngồi dậy, đi lại, tập một số động tác thể dục nhẹ.
đau thắt lưng
Đau cột sống thắt lưng
- Khi nằm bất động lâu cần đề phòng loét điểm tỳ: bằng co duỗi chân, nghiêng người nhẹ nhàng, đệm lót lớp chăn mỏng.

1.2. Thuốc giảm đau chống viêm, giãn cơ. 
- Thuốc giảm đau: uống hoặc tiêm tùy mức độ, các thuốc có thể dùng là:

+ Aspirin pH8 0,5 liều 1-3g/24h chia 2-3 lần.
+ Thuốc khác như: Voltaren, Profenid, Mobic, Vioxx...

Cần chú ý chọn liều thấp nhất có tác dụng, theo dõi chặt chễ các tác dụng phụ.
Có thể dùng các thuốc xoa bóp hoặc dán ngoài như: thuốc mỡ nọc rắn, methyl salicylat, cao dán, cồn xoa bóp... Không nên dùng các thuốc có steroid.

- Thuốc giãn cơ: nếu có co cơ cạnh sống gây vẹo và đau nhiều thì dùng các thuốc giãn cơ vân như: Myonal 50mg ngày 3 lần mỗi lần 1 viên, Mydocalm 50mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Décontracyl 250mg ngày 3 lần mỗi lần 2 viên, Diazepam 5mg ngày uống một lần 1-2 viên trước khi đi ngủ.

1.3. Các phương pháp dùng thuốc tại chỗ.
- Các phương pháp phong bế:

+ Phong bế cạnh cột sống thắt lưng: tiêm Novocain vào các điểm cạnh cột sống thắt lưng (chính là thủy châm các du huyệt thuộc kinh Bàng quang).
+ Phong bế rễ thần kinh ở khu vực lỗ ghép: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở khu vực lỗ ghép mỗi lần 15-20ml thuốc tê hoặc có thể thêm corticoid. Mỗi đợt điều trị tiêm 4-5 lần, cách hai ngày một lần.
+ Tiêm ngoài màng cứng vùng thắt lưng: tiêm vào tổ chức liên kết lỏng lẻo ở ngoài màng cứng với hỗn hợp Novocain 0,5%, Vitamin B12, Hydrocortison 125mg hoặc Dexamethason 30mg, mỗi lần tiêm 5-10ml, mỗi tuần tiêm hai lần, mỗi đợt tiêm 4-5 lần.
+ Phong bế hốc xương cùng: tiêm vào hốc xương cùng 20-30ml thuốc tê có thể trộn thêm corticoid, mỗi tuần 2 lần, mỗi đợt tiêm 4 lần.

- Tiêm corticoid vào đĩa đệm để điều trị hư đĩa đệm nặng.

2. Điều trị bằng các phương pháp vật lý và châm cứu. 
2.1. Nhiệt trị liệu. 
Thường dùng nhiệt nóng như đắp paraffin 450C, túi chườm nóng, chiếu hồng ngoại... vào vùng thắt lưng 20-30 phút có tác dụng giảm đau, giãn cơ. Nhiệt khối của sóng ngắn và vi sóng có tác dụng rất tốt nhất là đối với viêm thần kinh hông to (đặt dọc dây thần kinh).

2.2. Điện trị liệu. 
- Dòng điện một chiều đều: thường dùng kết hợp điện di các thuốc Novocain, Natri salicylat có tác dụng giảm đau, chống viêm.

- Các dòng điện xung thấp và trung tần:

+ Dòng Diadynamic: phối hợp CP+LP, MF+CP, MF+LP, DF+CP, hoặc DF+LP để giảm đau, giãn cơ, có thể thay đổi kiểu xung ở lần điều trị sau để tránh hiện tượng quen.
+ Dòng TENS: có tác dụng kích thích thần kinh hướng tâm qua da để giảm đau. Dòng TENS là loại xung có tần số 60-80Hz, có thể biến đổi xoay chiều, một chiều và biến đổi thời gian xung.
+ Dòng Trobert (còn gọi là dòng 2-5), đặt điện cực dọc cột sống có tác dụng giảm đau do phản xạ, tốt nhất là khi đã dùng các dòng xung kia mà không có tác dụng nhiều.
+ Dòng giao thoa với 2 cặp điện cực (IF): có tác dụng xoáy sâu mà không gây rát.

2.3. Siêu âm điều trị. 
Siêu âm chế độ liên tục hoặc xung vào 2 bên cột sống thắt lưng và dọc theo dây thần kinh hông to. Cường độ tùy từng vùng, nếu 2 bên cột sống thắt lưng ở chế độ liên tục có thể dùng 0,6-1W/cm2. Vùng mông cho siêu âm liên tục thì dùng 1-1,2W/cm2. Vùng cẳng chân siêu âm liên tục là 0,4-0,6W/cm2. ở các vùng trên nếu dùng chế độ siêu âm xung thì cường độ có thể tăng gấp đôi.

2.4. Xoa bóp, bấm huyệt. 
Xoa bóp vùng cột sống thắt lưng ở giai đoạn đau cấp cần thao tác nhẹ nhàng tránh những tác động mạnh có thể làm đau tăng. ở giai đoạn đau mạn có thể thực hiện đầy đủ các thao tác xoa bóp mạnh như xoa, vuốt, bóp, chặt, rung... Kết hợp ấn bấm các điểm đau cột sống (các huyệt thuộc mạch Đốc trên gai đốt sống), các điểm đau cạnh sống (là các du huyệt thuộc kinh Bàng quang) và các điểm đau chạy dọc đường đi của dây thần kinh hông to (các huyệt thuộc kinh Bàng quang).

2.5. Kéo giãn. 
2.5.1. Kéo xương chậu: 
Kéo xương chậu tại giường có hai cách:

- Bệnh nhân nằm sấp với chân giường nâng cao thêm 25cm.
- Bệnh nhân nằm ngửa ở tư thế Fowler biến đổi.

Trọng lượng kéo xương chậu tùy thuộc tuổi và trọng lượng cơ thể, sự co thắt cơ nhiều hay ít, có bệnh tim mạch hay không ? Trung bình trọng lượng tạ kéo là 10-15kg, thời gian kéo là 15-20 phút, mỗi ngày kéo 1-2 lần.

2.5.2. Kéo giãn cột sống: 
Kéo giãn cột sống là tác động cơ học vào vùng kéo nhằm làm mở rộng khoang gian đốt (với trọng lực 30-40kg, sau 20 phút, có thể kéo rộng 1-1,5mm), khôi phục lại cân bằng lực cơ của các hệ thống dây chằng. Ngoài ra còn có tác dụng lâm sàng giảm đau (do giãn cơ, giảm áp lực nội đĩa đệm, giải phóng chèn ép thần kinh). Tăng dần vận động của cột sống, khôi phục vị trí đĩa đệm, giảm các di chứng (mất đường cong sinh lý, lệch vẹo cột sống...).

Có các phương pháp kéo sau:
- Kéo bằng tự trọng trên bàn dốc: lực kéo được điều chỉnh bằng độ dốc của bàn so với mặt phẳng nền, độ dốc càng lớn thì lực kéo càng lớn. Nhược điểm của phương pháp này là lực kéo dàn đều từ chỗ kéo (nách) xuống mà không tập trung lực vào vùng thắt lưng.

- Kéo trên bàn kéo có hệ thống lực đối trọng là các quả cân: Bệnh nhân nằm ngửa trên bàn, cố định vùng thắt lưng, tiến hành kéo bằng các quả tạ. Phương pháp này có ưu điểm là có thể điều chỉnh trọng lực kéo dễ dàng, lực kéo tập trung vào vùng cột sống thắt lưng, đầu tư phương tiện rẻ tiền, nhưng có nhược điểm là tạo ra lực kéo liên tục gây cho cột sống và các tổ chức xung quanh tình trạng căng giãn kéo dài có thể gây đau sau kéo hoặc gây khó chịu cho bệnh nhân trong thời gian kéo.

- Kéo trên hệ thống bàn - máy kéo: Sử dụng máy kéo tự động cho phép điều chỉnh trọng lực kéo, chọn lực nền, lực cơ sở, đặt thời gian...

Với kéo cột sống thắt lưng nên chọn lực nền bằng 1/3 trọng lượng cơ thể, lực kéo bằng 1/2 trọng lượng cơ thể trong lần kéo đầu, các lần sau mỗi lần tăng thêm 1kg đến khi đạt tới 2/3 trọng lượng cơ thể thì duy trì lực này cho đến hết đợt kéo. Thời gian duy trì lực kéo khoảng 10 giây, thời gian tăng lực từ lực nền đến lực kéo (độ dốc) nhanh hay chậm cần căn cứ vào mức độ co cứng cơ của bệnh nhân. Nếu đau cấp và co cứng cơ nhiều thì độ dốc cần tăng từ từ. Thời gian kéo 1 lần từ 15-20 phút, mỗi ngày kéo một lần, mỗi đợt kéo 10-15 ngày.

- Kéo giãn cột sống dưới nước: là hệ thống kéo giãn kết hợp thủy liệu, kéo trong bể sâu 2m với nhiệt độ ấm cho giãn cơ lúc kéo. 

2.6. Tác động cột sống (manipulation).
- Phương pháp Chiropractic (Mỹ): dựa vào cơ chế sinh - cơ học của đĩa đệm cột sống để tiến hành nắn chỉnh cột sống bằng tay nhằm giải phóng chèn ép, và giảm đau.

- Quy trình nắn chỉnh cột sống của Nguyễn Văn Thông (1992).

+ Làm mềm các cơ ở lưng, mông bằng các phương pháp như xoa bóp, nhiệt nóng, điện xung... thời gian khoảng 15-20 phút:
+ Làm giải phóng đoạn cột sống bị tắc nghẽn với 4 thao tác sau:
+ Điều chỉnh đoạn cột sống trên khu vực bị tắc nghẽn.
+ Làm mạnh các cơ giữ cột sống (cơ lưng to, cơ bụng) và làm chuyển động các khớp cột sống, khớp chậu hông.

2.7. Chương trình tập Williams. 
Chương trình tập Williams được dùng để điều trị cho bệnh nhân đau lưng mạn tính, nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng và nhóm cơ gấp xương hông, đồng thời làm tăng sức mạnh của các cơ bụng và mông. Có 6 động tác trong bài tập này như sau:

1/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối hơi cong và hai chân được cố định, bật người ngồi dạy và với tay tới ngón chân. Động tác này làm mạnh cơ bụng và giãn cơ duỗi thắt lưng.

2/ Bệnh nhân nằm ngửa, co hai chân vuông góc, hai tay duỗi xuôi thân người, đồng thời nhấc mông lên khỏi mặt giường điều trị. Tiến hành xoay khung chậu về 2 phía để làm thắt lưng thẳng hơn. Động tác này nhằm làm mạnh cơ bụng và cơ mông, làm giãn cơ gấp khớp hông.

3/ Bệnh nhân nằm ngửa hai đầu gối co, hai tay ôm lấy hai đầu gối rồi kéo mạnh lên đồng thời nâng cằm lên cho chạm đầu gối. Giữ tư thế này 15 giây rồi nằm dài ra nghỉ. Hoặc hai tay vẫn giữ tư thế ôm gối rồi bật người ngồi dậy. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ duỗi lưng dưới.

4/ Bệnh nhân ngồi, duỗi thẳng hai gối, đưa tay thẳng ra tới ngón chân. Bài tập này nhằm làm giãn khối cơ duỗi lưng và cơ tứ đầu đùi.

5/ Bệnh nhân một chân phía trước gấp, một chân phía sau duỗi, hai tay chống xuống đất ở phía trước, rồi ép chậu hông xuống. Động tác này nhằm làm giãn nhóm cơ gấp hông (cơ thắt lưng chậu) mà không làm tăng độ ưỡn của cột sống.

6/ Bệnh nhân ngồi xổm và đầu cúi, hai bàn chân đặt cách nhan 30cm, tay để thẳng hướng về phía sàn nhà và ở giữa hai gối. Động tác này nhằm làm giãn nhóm co duỗi thắt lưng.

Trong mỗi lần tập, mỗi động tác trên được tiến hành 5-10 lần tuỳ sức chịu đựng.

2.8. Châm cứu.
- Đau lưng cục bộ chủ yếu chọn các huyệt thuộc kinh Bàng quang như: Thận du, Mệnh môn, Đại trường du, Thứ liêu, Dương lăng tuyền, Uỷ trung, Thừa sơn, và A thị. Có thể chọn thêm các huyệt Hoa Đà Giáp Tích (ngang mỏm gai các đốt sống đo ra 0,5 thốn). Nếu đau thần kinh hông to, chọn các huyệt chủ yếu thuộc kinh Bàng quang và kinh Đởm: Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Đại trường du, Thừa phù, Uỷ trung, Thừa sơn, Côn lôn... Mỗi lần chọn 3-5 huyệt, khi châm mỗi huyệt đều đạt đến cảm giác đắc khí lan xuống dưới.

- Nếu dùng điện châm, nên chọn dòng xung gai nhọn hoặc chữ nhật, có tần số từ 20-150Hz, chú ý mắc các cặp điện cực sao cho dòng điện đi qua điểm đau, hoặc chạy dọc theo đường đi của dây thần kinh hông to, điều chỉnh cường độ đến dưới ngưỡng đau sau đó cứ vài phút thì tăng cường độ lên một chút. Có thể kết hợp vừa châm vừa chiếu hồng ngoại vào vùng đau.
Read more…

Cải thiện tình trạng đau thắt lưng do thoái hoá cột sống

Đau thắt lưng là biểu hiện thường gặp, rõ rệt nhất của thoái hóa cột sống thắt lưng. Tình trạng này không chỉ gây nhiều phiền toái cho người bệnh trong sinh hoạt hàng ngày mà còn có thể dẫn tới tàn phế nếu không được điều trị đúng cách.

Thống kê cho thấy, khoảng 80% người trung niên bị đau thắt lưng do thoái hóa cột sống thắt lưng (CSTL). Nguyên nhân gây bệnh là do tình trạng hư hỏng phần sụn đệm giữa các đốt sống thắt lưng kèm theo phản ứng viêm, làm giảm chức năng nâng đỡ cơ thể, chèn ép vào các rễ thần kinh, gây đau với nhiều mức độ khác nhau. Theo các nhà khoa học, tùy vào tính chất đau mà đau thắt lưng do thoái hóa CSTL được chia thành ba thể lâm sàng:
đau thắt lưng
Đau thắt lưng
- Thể thứ nhất là đau thắt lưng cấp tính, thường xuất hiện sau một động tác mạnh, quá mức, đột ngột và sai tư thế hoặc có thể do chấn thương. 
- Thể thứ hai là đau thắt lưng mạn tính, với đặc trưng là đau âm ỉ vùng thắt lưng, hay tái phát; cơn đau tăng lên khi vận động, thay đổi thời tiết, giảm lúc nghỉ ngơi. 
- Thứ ba là đau thắt lưng kết hợp với đau thần kinh tọa một bên hay hai bên. Biểu hiện bệnh là đau CSTL, lan xuống mông, mặt sau ngoài đùi, cẳng chân, có thể lan xuống gót chân hay các ngón chân.

Thông thường, để giảm đau thắt lưng ở bệnh nhân thoái hóa CSTL, bác sĩ thường kê cho bệnh nhân dùng nhóm thuốc giảm đau, chống viêm,... kết hợp với nghỉ ngơi, tập vật lý trị liệu, kéo dãn cột sống hay xoa bóp, chườm nóng,... Tuy nhiên, người bệnh có thể gặp một số tác dụng phụ của nhóm thuốc này như: rối loạn tiêu hóa, loét dạ dày, tá tràng, độc với gan, thận,...

Hiện nay, phương pháp điều trị đang được nhiều bác sĩ và bệnh nhân VKDT lựa chọn là dùng kết hợp thuốc theo đơn với các sản phẩm nguồn gốc thiên nhiên, hiệu quả bền vững, không gây tác dụng phụ.
Read more…

Bệnh viêm tai giữa ở người lớn

Viêm tai giữa là bệnh gặp ở người lớn. Viêm tai giữa là tình trạng viêm toàn bộ hệ thống hòm nhĩ và xương chũm (nằm sau màng nhĩ), thường có tạo dịch trong hòm nhĩ, dịch này có thể nhiễm trùng hoặc vô trùng. Nếu bị viêm tai giữa mà không chữa trị kịp thời, sẽ dẫn đến viêm tai xương chũm cấp rất nguy hiểm. Một khi bệnh phát nặng, dễ xảy ra biến chứng thủng màng nhĩ, giảm thính lực, xơ hóa màng nhĩ, liệt thần kinh mặt, viêm xương chũm.

Nguy hiểm hơn là biến chứng xảy ra trong sọ não như viêm màng não, áp xe não, áp xe ngoài màng cứng... dễ gây tử vong . Nguyên nhân gây ra căn bệnh này là do viêm nhiễm vùng mũi họng gây ra bởi vi trùng hoặc siêu vi. Ngoài ra do tắc vòi nhĩ, thường gặp do sùi, u ở vòm họng, do viêm mũi xoang mủ. Có trường hợp mắc bệnh do viêm nhiễm đường hô hấp, dị nguyên, bệnh lý trào ngược, không khí ô nhiễm, thời tiết lạnh cũng là những tác nhân gây viêm tai giữa hiện nay.
viêm tai giữa
Viêm tai giữa
Dấu hiệu thường gặp
Cũng giống các bệnh khác, dấu hiệu thường gặp của viêm tai giữa khởi đầu là đau tai, sau đó chảy nước tai và sức nghe giảm.

Ngoài ra có những dấu hiệu ít gặp khác như ù tai, chóng mặt (thường được phát hiện ở trẻ lớn). Có trường hợp sốt, sưng sau tai, chán ăn và khó ngủ…

Để phát hiện bệnh, người lớn cũng như trẻ em cần được sự trợ giúp của bác sĩ trong chẩn đoán như dùng đèn soi tai có kính phóng đại (Otoscope); kính hiển vi soi tai và nội soi tai (Oto-Endoscope).

Điều trị viêm tai giữa
Có nhiều cách điều trị viêm tai giữa, trong đó phương pháp điều trị nội khoa là chủ yếu. Theo đó, kháng sinh uống là thuốc được chọn hàng đầu. Việc chọn lựa kháng sinh dựa trên kiến thức về vi khuẩn thường gặp trong viêm tai giữa. Lý tưởng nhất là dựa trên kết quả kháng sinh đồ cấy mủ tai.

Thời gian điều trị tối thiểu 8 ngày. Nếu màng nhĩ không thủng có thể dùng thuốc nhỏ tai, không nên bơm rửa.
Nếu màng nhĩ thủng có thể nhỏ tai trong 3 - 4 ngày đầu (loại không độc cho tai) để ngăn chặn sự hình thành các bửng mủ làm bít dẫn lưu, sau đó rửa bằng nước muối sinh lý hay nước oxy già. Ngoài ra có thể thông vòi, bơm thuốc vòi nhĩ.

Một số trường hợp viêm tai nhưng trị kháng sinh không hiệu quả phải chích rạch màng nhĩ – đặt ống thông nhĩ Diabolo hay nạo VA (viêm amidan) được thực hiện nếu viêm tai giữa kèm với dấu hiệu viêm đường hô hấp trên do tắc nghẽn bởi VA phì đại. Nếu bệnh nhân có triệu chứng của đe dọa biến chứng và điều trị nội khoa tối ưu không mang lại kết quả khả quan, có thể cần đến phẫu thuật hòm nhĩ, khoét xương chũm.

Phòng ngừa vẫn là yếu tố quan trọng nhất
Mọi người cần phát hiện bệnh sớm để giải quyết sớm ổ viêm vùng mũi họng như nạo VA; điều trị viêm mũi xoang, loại bỏ các bít tắc ở vòm; làm thông vòi nhĩ bằng nghiệm pháp Valsava (bệnh nhân bịt chặt 2 lỗ mũi, phồng má thổi một hơi mạnh nhưng phải ngậm miệng lại để hơi không thoát ra).

Nếu không nghe thấy tiếng hơi qua vòi đập vào màng nhĩ là nghiệm pháp âm tính, do vòi nhĩ bị tắc. Lưu ý trong các trường hợp viêm đọng nhầy mủ ở vùng mũi họng – xoang – vòm thì không nên thổi hơi mà để bệnh nhân bịt mũi, ngậm miệng, nuốt nước bọt.

Ngoài ra, có thể chủng ngừa vi khuẩn phế cầu (Streptococcus pneumoniae. Vi khuẩn thường gặp nhất trong viêm tai giữa). Cải thiện điều kiện vệ sinh,môi trường, nhà ở sạch sẽ; không nên bơi lội khi tai có dấu hiệu đau, tránh khói thuốc lá và giữ tai luôn khô sạch… là những biện pháp phòng ngừa tốt.
Read more…

Bí quyết phòng tránh mất ngủ ở tuổi thanh thiếu niên

Khi nói đến tuổi thanh thiếu niên, hầu hết ai cũng nghĩ đây là tuổi ăn, tuổi ngủ. Tuy nhiên, thực tế, nhiều trẻ thường xuyên rơi vào tình trạng mất ngủ triền miên. Vậy cách nào giúp trẻ vị thành niên phòng tránh tình trạng mất ngủ?

Chứng mất ngủ là tình trạng khó ngủ hoặc ngủ không ngon giấc xảy ra ít nhất 4 lần/tuần trong một tháng hoặc lâu hơn.Các nhà nghiên cứu cho rằng thay đổi hormon có thể đóng vai trò trong các rối loạn giấc ngủ ở một số em gái và kinh nguyệt có liên quan đặc biệt tới việc khó ngủ ngon và ngủ sâu. Các dạng mất ngủ này thường do nguyên nhân sinh lý, trong khi khó ngủ lại thường liên quan đến stress.

Mặc dù ngủ kém ảnh hưởng đến chức năng nhận thức và có liên quan với sức khỏe cảm xúc và thể chất kém, song các nghiên cứu dịch tễ ở trẻ vị thành niên còn hạn chế và đây là nghiên cứu đầu tiên về chứng mất ngủ. Các tác giả cho biết sinh lý là một trong 2 lý do tại sao kinh nguyệt có liên quan tới mất ngủ, lý do còn lại là thay đổi thể chất ở tuổi dậy thì tạo ra “áp lực xã hội” góp phần gây ra các vấn đề về giấc ngủ. Trong số trẻ vị thành niên trong nghiên cứu bị mất ngủ, 88% tiếp tục có vấn đề về giấc ngủ có nghĩa đây là vấn đề lâu dài đối với nhiều thanh thiếu niên.

Như vậy, mất ngủ là một vấn đề mạn tính hay gặp ở trẻ vị thành niên và căn cứ vào các hậu quả của thiếu ngủ ở thanh thiếu niên như kém minh mẫn, thành tích học tập kém, thậm chí sức khỏe thể chất; tinh thần kém thì việc phòng ngừa và điều trị cần được ưu tiên. Các liệu pháp hiện tại để điều trị mất ngủ bao gồm thay đổi lối sống để khuyến khích việc ngủ như đi ngủ và dậy đúng giờ, liệu pháp nhận thức hành vi và dùng thuốc ngủ.
mất ngủ
Mất ngủ
Nguyên nhân gây mất ngủ ở thanh thiếu niên
Chúng ta vẫn nghĩ rằng ở độ tuổi dậy thì của cả nam và nữ, các em thường ăn không biết no, ngủ không biết chán. Tuy nhiên, nếu các em thường xuyên làm những việc sau, các em sẽ rơi vào tình trạng mất ngủ triền miền. Điều đó sẽ làm các em mệt mỏi, chán ăn và tất nhiên kết quả học tập sa sút.

Dưới đây là một số nguyên nhân khiến thanh thiếu niên dễ mất ngủ:

- Ngồi nhiều giờ đồng hồ trước máy vi tính hoặc trò chơi điện tử mỗi ngày.

- Uống quá nhiều nước ngọt có ga hoặc cà phê vào buổi tối.

- Thường xuyên lo lắng về bài vở cho ngày hôm sau.

- Gặp những vướng mắc về tình cảm….

Nếu các em mất ngủ trong nhiều tuần liên tiếp, điều đó không chỉ ảnh hưởng tới sức khoẻ thể chất của các em, mà còn ảnh hưởng tới sức khoẻ tinh thần. Mất ngủ triền miên có thể làm các em rơi vào tình trạng ủ rũ, lo lắng, thậm chí dẫn đến trầm uất.

Nếu đi kèm với sự mất ngủ, các em còn có triệu chứng xanh xao, rất có thể các em đã bị thiếu máu nghiêm trọng. Trong trường hợp này, gia đình cần cho các em đi khám bác sỹ.

Bí quyết giúp thanh thiếu niên tránh mất ngủ
Nếu cảm thấy con mình có vấn đề trong giấc ngủ đêm và khó dậy vào buổi sáng, hãy đưa trẻ tới trung tâm tư vấn hoặc áp dụng cách sau:

- Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc ngủ đúng giờ.

- Giúp trẻ học cách thư giãn và biết những dấu hiệu nào cho thấy cần đi ngủ ngay. Khuyến khích trẻ tưởng tượng và sáng tạo trong kỹ thuật thư giãn, biết cách xếp các vấn đề lo lắng, cần suy nghĩ sang một bên để có thể ngủ dễ dàng.

- Tắt tất cả các thiết bị điện tử, kể cả điện thoại 1 giờ trước khi đi ngủ.

- Không cho trẻ uống các đồ uống chứa cafein vào buồi chiều và tối.

- Khuyến khích trẻ thường xuyên luyện tập, đặc biệt là tập ngoài trời vào buổi sáng.

- Mặc dù lứa tuổi thanh thiếu niên thường thích ngủ nướng vào cuối tuần nhưng không nên để trẻ ngủ quá 2 tiếng so với ngày thường. 

- Tạo bình mình cho trẻ bằng cách mở cửa, kéo rèm hoặc bật đèn trước khi trẻ dậy.

- Hãy cảnh báo cho trẻ về nguy hiểm khi đi xe xe trong tình trạng buồn ngủ.

Chế độ ăn đối với giấc ngủ
Việc thay đổi chế độ ăn, ăn nhiều chất bột, axit amin, tryptophan cũng giúp cho ngủ tốt. Một nghiên cứu cho thấy trẻ em dùng nhiều tryptophan thì giấc ngủ êm dịu (đồng thì) đến sớm hơn 20 phút, giấc ngủ hoạt động (đảo ngược) sớm hơn 14 phút, nhưng tổng thời lượng ngủ không thay đổi. Nên cho con trẻ ăn nhiều tryptophan để chúng không bị ngủ dài hơn. Chất bột và axit amin ở người lớn có khác nhau về giới và tuổi nhưng ở trẻ em chưa có tài liệu nào nêu rõ. Không nên dùng nhiều đường vì chất này sẽ làm trẻ em quá hiếu động.

Nhiều trẻ hay mất ngủ vì lo điểm, lo thành tích các mặt trong lớp. Nếu quá lo, không ngủ ngon, trẻ cũng dễ bị mất ngủ. Ở tuổi đi học, rối loạn giấc ngủ thường là do thiếu ngủ mạn tính. Thuốc chỉ có tác dụng ngắn hạn và tạm thời. Về lâu dài, cần xây dựng cho con thói quen ngủ tốt.
Read more…